Hiển thị các bài đăng có nhãn pháp lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn pháp lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

Quy chế pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải trong luật pháp quốc tế và Việt Nam

Khái niệm và quy chế pháp lý đối với vùng tiếp giáp lãnh hải đã được đề cập cụ thể trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật Biển 1982)


Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền lãnh hải; tại đó, quốc gia ven biển thực hiện các thẩm quyền có tính riêng biệt và hạn chế đối với các tầu thuyền nước ngoài. Phạm vi của vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở (Điều 33).

Theo quy chế pháp lý của Công ước Luật Biển 1982, có thể hiểu: phạm vi vùng tiếp giáp lãnh hải bắt đầu được tính từ đường ranh giới bên ngoài của lãnh hải - biên giới của quốc gia ven biển - hợp với lãnh hải thành vùng biển rộng không quá 24 hải lý. Như vậy, đối với những quốc gia chỉ quy định phạm vi lãnh hải của mình rộng 3; 4 hoặc 5 hải lý, thì vùng tiếp giáp lãnh hải mà quốc gia đó được hưởng theo quy định của Công ước Luật Biển 1982, có thể là 21 hải lý hoặc 20 hải lý hoặc 19 hải lý.

Nguồn gốc sự ra đời của vùng tiếp giáp lãnh hải xuất phát từ nhu cầu kiểm soát thuế quan, chống lại các hoạt động buôn lậu và đảm bảo an ninh trên vùng biển của các quốc gia ven biển.

quy chế pháp lý 1

Về chế độ pháp lý: Công ước Luật Biển 1982 quy định, quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểm soát cần thiết tại vùng tiếp giáp lãnh hải, nhằm:

- Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;

- Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.

Tại vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển không có đầy đủ mọi quyền tài phán. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền, quy chế pháp lý như: tiến hành các biện pháp kiểm soát cần thiết, nhằm ngăn chặn sự vi phạm các luật hay quy định của quốc gia đó về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trong phạm vi lãnh thổ hay lãnh hải của mình; trừng phạt sự vi phạm các luật và quy định đối với các lĩnh vực nói trên đã được thực hiện trong lãnh thổ hay lãnh hải của quốc gia đó. Các hành động tại vùng tiếp giáp lãnh hải mà không có sự cho phép của quốc gia ven biển sẽ được coi là vi phạm pháp luật trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của quốc gia đó, và vì vậy, quốc gia ven biển có quyền trừng trị sự vi phạm này. nằm trong vùng đặc quyền kinh tế, nên quốc gia ven biển cũng có chủ quyền về khai thác, thăm dò các tài nguyên biển vì mục đích hòa bình ở vùng biển này. Ngoài ra, Điều 303 của Công ước Luật Biển 1982 còn quy định, đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ thì mọi sự trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thuộc

Đối với Việt Nam, trong tuyên bố ngày 12 - 5 - 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam đã nêu rõ:

Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước CHXHCN Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.

Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam thực hiện sự kiểm soát quy chế pháp lý cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, bảo đảm sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.


Tuyên bố trên của Chính phủ nước ta về vùng tiếp giáp lãnh hải, sau này tiếp tục được khẳng định và cụ thể hóa trong Luật Biên giới quốc gia (2003) và các văn bản dưới luật khác; cho thấy, những quy định pháp lý vềvùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với những quy định trong Công ước Luật Biển 1982 về vùng tiếp giáp lãnh hải.
Xem thêm tại ĐÂY

HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP NHÌN TỪ THỰC TIỄN


Theo cộng đồng doanh nghiệp (DN), thời gian qua, họ đã nhận được sự trợ giúp pháp lý từ các cơ quan nhà nước nhưng chưa nhiều... Các cơ quan nhà nước thì lại cho rằng, nhận thức của chủ DN về các quy định của pháp luật chưa cao...

 Đó là thực tiễn không khó để nhận ra những mặt được và chưa được từ cả hai phía đối với công tác "Hỗ trợ pháp lý cho DN" trên địa bàn Hà Tĩnh
Theo ông Nguyễn Thanh Hải - Phó Giám đốc Sở Tư pháp, việc nâng cao năng lực về pháp luật thông qua hình thức hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần ổn định sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh... của các DN trên địa bàn tỉnh với các DN trong nước và quốc tế. Và, điều này đã được Chính phủ cụ thể hóa bằng Nghị định 66/2008/NĐ - CP về “Hỗ trợ pháp lý cho DN”. Thực hiện nghị định trên, ngày 6/4/2011, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 05/2011 quy định về hỗ trợ pháp lý cho DN trên địa bàn. Quyết định này quy định rõ hình thức và nội dung hỗ trợ cho DN, bao gồm: xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu pháp luật; xây dựng tài liệu, giới thiệu, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật; bồi dưỡng kiến thức pháp luật; giải đáp, tiếp nhận kiến nghị của DN.
pháp lý doanh nghiệp 1

 Không chỉ vậy, Quyết định 05/2011 của UBND tỉnh còn tiến xa thêm một bước so với Nghị định 66/2008/NĐ - CP của Chính phủ, là: giúp các DN tiếp cận các dịch vụ pháp lý. Tức là, trong quá trình giải quyết các công việc cụ thể liên quan đến quá trình hoạt động SXKD của DN, khi DN có yêu cầu, các sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm giới thiệu cho DN tiếp cận các dịch vụ pháp lý như: luật sư, tư vấn pháp luật, trọng tài thương mại... để được tư vấn, giải quyết những vướng mắc pháp lý.
 “Nắm được vai trò quan trọng của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), trong đó có chỉ số dịch vụ hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp đối với việc cải thiện môi trường đầu tư cho DN, tạo đà cho sự phát triển KT-XH của tỉnh, ngày 4/4/2012, UBND tỉnh đã ban hành chương trình hành động nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2012-2015. Chương trình nhấn mạnh: đổi mới chính sách phát triển DN và các thành phần kinh tế khác; kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, trợ giúp cho DN sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; tạo sự thân thiện và hài lòng của DN đối với các cơ quan quản lý nhà nước...”, ông Nguyễn Thanh Hải - Phó Giám đốc Sở Tư pháp, cho biết thêm.
          Để thực hiện các thể chế trên, trong những năm qua, các cơ quan nhà nước trên địa bàn, như: Sở Tư pháp, Tòa án, Sở Công thương, Sở Kế hoạch - Đầu tư, Cục Thuế..., UBND cấp huyện, Hiệp hội Doanh nghiệp Hà Tĩnh... đã có nhiều hình thức, nội dung hoạt động nhằm đưa công tác hỗ trợ pháp lý cho DN ngày càng đi vào nền nếp, phát huy tốt hiệu quả...
           Những nỗ lực trên đã được giới DN trên địa bàn ghi nhận và đánh giá cao. Tham luận do đại diện Tập đoàn Phú Tài Đức trình bày tại buổi tọa đàm trao đổi về kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho DN vừa được Sở Tư pháp tổ chức đã khẳng định: với những hình thức (và nội dung - PV) hỗ trợ đa dạng đã góp phần định hướng, nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, giúp DN hoạt động và phát triển dựa trên một nền tảng pháp lý ổn định, chắc chắn, bền vững, lâu dài. Với sự hỗ trợ từ phía cơ quan có thẩm quyền, DN chúng tôi yên tâm hơn về tính pháp lý trong mỗi hoạt động của mình, hạn chế được tình trạng vi phạm pháp luật do thiếu hiểu biết... Có thể khẳng định rằng, với chương trình hỗ trợ pháp lý này, mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước và DN đã được cải thiện đáng kể...
pháp lý doanh nghiệp 2


Tuy nhiên, trên thực tế, theo đánh giá của ngành Tư pháp, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hỗ trợ pháp lý cho DN trên địa bàn thời gian qua cũng lộ rõ những khó khăn, hạn chế cần khắc phục. Thực tế còn cho thấy, hình thức hỗ trợ pháp lý cho DN thời gian qua chưa đa dạng; chương trình tập huấn cho đội ngũ làm công tác pháp chế ở cơ quan nhà nước và DN các cấp còn ít, nội dung chưa phong phú, chưa kịp thời nên triển khai các nhiệm vụ theo Nghị định 66/2008 của Chính phủ chưa đồng bộ.

          Bên cạnh nguồn kinh phí rất hạn hẹp của Bộ Tư pháp, cấp tỉnh, cấp huyện cũng chưa bố trí nguồn kinh phí riêng cho hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DN nên khi triển khai gặp rất nhiều khó khăn.
         Thực tiễn cho thấy, các DN trên địa bàn chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, nhận thức của các chủ DN về các quy định của pháp luật chưa cao, nhiều DN chưa nắm bắt được các lợi ích khi tham gia các tổ chức trợ giúp pháp lý doanh nghiệp; phần lớn các DN chưa bố trí cán bộ phụ trách công tác pháp chế để giúp DN thực thi pháp luật; hoặc có thì cũng thường kiêm nhiệm, chưa được đào tạo bài bản, do đó, việc tiếp cận và hiểu các văn bản pháp luật rất khó khăn, hạn chế...

         Những hạn chế, khó khăn trên đã khiến cho công tác hỗ trợ pháp lý cho DN trên địa bàn Hà Tĩnh trong thời gian qua chưa đạt được kết quả như mong muốn, dù đã có những cố gắng nhất định. Chỉ có sự chung tay từ cả 2 phía mới giải quyết được thực trạng trên.
Xem thêm tại ĐÂY